[ShortFic] Ác Mã Ác Nhân Kỵ – KyuMin Ver – Chương 8


Chương 8

Nói đến lão bản nương, thì không thể không nhắc đến vài ba chuyện của đêm qua…

Lúc Lý Thịnh Mẫn ngoảnh về phía mụ hỏi giải dược, mụ đang nói nửa chừng đột nhiên á khẩu, ấy là Triệu Khuê Hiền đã sử dụng công phu điểm huyệt cách không, điểm trúng á huyệt của mụ, khiến cho nửa sau của câu nói không thể phát ra. Mà nửa sau ấy chính là, “Loại xuân dược này không giao hợp cũng không chết, chỉ cần chịu đựng một chút là được ấy mà.” Rồi đến khi Lý Thịnh Mẫn hỏi mụ nhất định hắn phải dùng tư thế của nữ nhân giao hợp, lúc ấy mụ thành thật lắc đầu, nhưng thoáng nhìn sang thấy Triệu Khuê Hiền lặng lẽ làm động tác cắt cổ, khiến mụ sợ đến mức vội vàng gật lia gật lịa, không dám lắc đầu lấy nửa cái.

Bởi vậy, chúng ta có thể suy đoán rằng dược tính trong cơ thể Triệu Khuê Hiền từ lúc Lý Thịnh Mẫn tỉnh lại, không bao lâu sau đã được vận công đẩy ra hoàn toàn. Cho nên, điều này cũng có nghĩa là những việc xảy ra sau đó đều là do đại hiệp biến thái bày trò cả thôi.

Triệu Khuê Hiền vốn muốn giết lão bản nương cũng như tất cả tay sai trong khách điếm, sau đó hủy thi diệt tích. Dù sao thì những kẻ này đều là bọn ác tặc thổ phỉ, cũng chẳng biết chúng đã sát hại bao nhiêu mạng người, chết cũng không đền hết tội. Nhưng chẳng ngờ lão bản nương hai mắt vừa đẫm lệ vừa ngời ngời ánh sáng ngước lên nhìn y. Ánh mắt ấy không phải là sự sợ hãi khi đối diện với cái chết, mà là một thứ cảm xúc mừng rỡ đến phát điên, như thể một con sơn dương lạc lối tìm thấy đường về nhà.

Y bèn giải á huyệt cho mụ, cố ý hảo tâm để mụ lưu lại di ngôn, nhưng mụ lại kích động nói với y rằng – “Lão nương ta thật sự quá cảm động. Hóa ra nam nhân và nam nhân cũng có thể có những cảnh xuân cuồng dã, tươi đẹp động lòng người đến vậy. Triệu đại hiệp, ngài nhất định phải đối xử tốt với tiểu công tử, hai người nhất định phải hạnh phúc trọn đời bên nhau. Nếu vậy thì dẫu lão nương có chết cũng an lòng.”

Triệu Khuê Hiền nghe xong chỉ cảm thấy buồn cười, lòng nghĩ thầm lão bà này chắc là đêm qua bị cảnh long dương hoan hảo kia khiến cho phát điên rồi. Nhưng cũng vì những lời nói cảm động lòng người này của mụ, Triệu đại hiệp nhất thời thay đổi chủ ý, quyết định tha cho mụ một con đường sống. Thắng Tuyết công tử ngoài mặt ra vẻ đạo mạo hạ thủ lưu tình[1], thực tế thì tùy tâm tình mà làm việc, không để ý đến những nhận định thiện ác như người bình thường, lại càng không có hứng thú làm cái việc thế thiên hành đạo. Y mặc dù không đến nỗi giết người lung tung, nhưng nếu y muốn giết ai thì kẻ đó đừng hòng tránh được. Cho nên có thể nói tính mệnh của lão bản nương lần này là từ trong tay Diêm Vương gia cướp về.

Từ miệng cọp đi ra đã cho lão bản nương một kinh nghiệm xương máu, mụ bèn chỉ tay lên trời thề sẽ cải tà quy chính, một lần nữa tìm kiếm lý tưởng sống đúng đắn, lần thứ hai phát triển sự nghiệp. Sau đó, mụ gói ghém hành lý, ngàn dặm độc hành không cần ai đưa tiễn, cứ thế bôn tẩu trên đường dài thênh thang.

Những kẻ còn lại trong khách điếm cũng vì thế mà tan đàn xẻ nghé, tìm đường tẩu thoát.

Ba năm sau, Triệu Khuê Hiền ngẫu nhiên nhìn đến một quyển nam phong tiểu thuyết, cũng là lúc nổ ra chuyện gian tình của Hoàng đế bệ hạ và Lễ bộ Thị lang, tạo nên một phong trào dâm thư cực kỳ thịnh hành. Mà trong số ấy có một tác phẩm miêu tả chuyện tình của hai nhân vật chính có điểm trùng hợp với chuyện của y và Lý Thịnh Mẫn ngốc nghếch. Ngay giữa truyện có một đoạn viết về sự tình ở hắc khách điếm giữa vùng hoang sơn dã lĩnh, quá trình không mấy khác biệt. Sách này ấn hành bởi cơ sở kinh doanh của Lý gia, phần đề tựa có viết – “Chính mắt trông thấy, tuyệt đối là sự thật.” – nhưng đến lời bạt lại viết – “Lời phụ họa theo, mọi thứ chỉ là trùng hợp.”

Sau đó y lại nghe nói rằng tác giả quyển sách này sau đó vì thế trở thành một trong các tác giả ăn khách nhất của phong trào nam phong tiểu thuyết, luôn đi đầu ủng hộ vẻ đẹp nam phong. Nhưng đây là chuyện về sau, bây giờ tạm không nói đến.

Quay trở lại câu chuyện của chúng ta, Triệu Khuê Hiền thấy Lý Thịnh Mẫn đã tỉnh, liền mang cương buộc ở đầu xe, sau đó tiến vào bên trong ôm Lý Thịnh Mẫn nằm xuống trở lại – “Ngủ tiếp một lát nữa đi, khi nào đói thì sẽ ăn chút gì đó.”

Lý Thịnh Mẫn không giãy giụa kháng cự như trước đây, lẳng lặng để cho y ôm mình. Có lẽ là do hắn vẫn chưa khôi phục tâm tình, mà cũng có thể là còn lý do khác nữa. Triệu Khuê Hiền thấy thế, trong lòng không giấu nổi niềm vui mừng. Tiểu tử kia ngoan ngoãn như vậy khiến y càng yêu thương dịu dàng, nhẹ nhàng xoa bóp thắt lưng cho hắn, ôn nhu hỏi – “Có phải vẫn còn đau hay không?”

“Ngươi còn nói nữa sao?” – Lý Thịnh Mẫn xẵng giọng, mặt mày nóng ran.

Hắn nhớ đến hôm qua mình cưỡi lên người y không bao lâu thì y đã vọng động, tay bắt lấy mông hắn, không cho hắn cơ hội trốn thoát, thẳng tay đẩy hắn xuống bên dưới. Kể từ lúc ấy, Lý Thịnh Mẫn cảm thấy chính mình lâng lâng như bay lên chín tầng mây, mãi đến khi Triệu Khuê Hiền tiến vào bên trong thì hắn mới từ trên những đám mây ngã lộn cổ trở xuống đất. Kế tiếp chính là một đêm hoan ca cuồng say.

“Ngươi căn bản không hề trúng xuân dược đúng không?” – hắn nghĩ đến vẫn còn giận, cảm giác như mình đã mắc mưu khiến bản thân phải nếm trải sự mệt nhọc này.

“Có, nhưng mãi đến khi ấy mới giải trừ hết dược tính.” – Triệu Khuê Hiền trả lời, trong đó có một nửa là sự thật, nửa phần dối trá kia là dược tính trong người y sớm đã giải, nhưng khi tên nhóc con kia vừa sợ hãi vừa chuyển động, cẩn trọng cưỡi lên người y, khiến y không thể kháng cự được cơn dục vọng mới lộ ra dấu vết. Ái chà, quả nhiên là sắc dục lấn át trí khôn mà.

“Ông nội ngươi, sớm giải không phải tốt hơn sao?” – hại ta mang cặp mông trắng nõn của mình ra làm giải dược cho ngươi, thật là buồn nôn muốn chết mà.

“Nếu sớm giải thì ngươi sao có thể cưỡi lên người ta chứ?” – y kề sát vào tai hắn mà nỉ non.

“Có khùng mới cưỡi lên người ngươi ấy.” – hơi thở ấm áp phả vào khiến tai hắn đỏ ửng lên.

“Ai da da, thế hôm qua là tiểu quỷ nào đã cưỡi lên người ta đấy hả?”

“Đồ hùng lão tử nhà ngươi, mau ngậm miệng lại cho ta.”

Triệu Khuê Hiền nhìn hắn cười không ngớt, tâm tình cực kỳ sảng khoái.

Lý Thịnh Mẫn cảm nhận được lồng ngực y đang có những tiếng cười chấn động, tựa như tiếng sét vang dội giữa tiết xuân sang hoa nở.

“Ngươi không cần ra ngoài đánh xe sao? Không sợ sẽ đi sai đường à?” – Lý Thịnh Mẫn thuận miệng hỏi.

“Yên tâm, Đạp Tuyết sẽ tự biết đường về nhà mà.”

“Đúng rồi, chúng ta phải về nhà.” – Triệu Khuê Hiền thầm nghĩ – “Trở lại ngôi nhà mà chúng ta sẽ bên nhau trọn một đời.”

“Á, ngươi đang sờ gì đó?” – cả người hắn nổi hết da gà lên.

“Là sờ một chiếc mông đáng yêu.” – kẻ kia mỉm cười.

“Buông tay ra!”

“Ta biết ngươi còn đau nên giúp ngươi xoa bóp mà.”

“Không cần ngươi nhiều chuyện… Ngươi, ngươi, ngươi,… không cho phép ngươi sờ lên phía trước.”

“A, nơi này của ngươi hẳn là càng mệt mỏi hơn, nên để ta giúp nó hồi phục lại nhé.”

“Ngươi đi chết đi.”

Trải qua sự kiện ô long hắc điếm[2] kia thì giữa hai người cũng đã bắt đầu nảy sinh biến hóa, những khi ở cùng bên nhau càng lúc càng hàm ẩn một điều gì đó mờ ảo. Tuy rõ ràng là ngoài mặt vẫn tiếp tục cãi nhau, nhưng đằng sau đó lại là những ngọt ngào dây dưa không dứt.

Như thể một điều vô hình vô thanh bí mật gieo mầm, từ từ bám rễ.

Có một số việc chẳng cần nói thành lời, trong lòng cũng tự nhiên có thể hiểu rõ.

Triệu Khuê Hiền càng nghĩ càng thêm rõ ràng. Y nghĩ rằng, y đã tìm được một nửa mà y vẫn hằng chờ đợi.

Trái lại Lý Thịnh Mẫn tâm tính đơn thuần kia hoàn toàn không suy nghĩ phức tạp như Triệu Khuê Hiền, tự suy diễn rồi đi đến kết luận, chỉ đơn giản là một kẻ thẳng ruột ngựa, yêu thích hay chán ghét thứ gì cứ tùy hoàn cảnh mà quyết định. Hắn vốn là kẻ lười suy nghĩ, luôn quan niệm thuyền đến đầu cầu tự nhiên sẽ thẳng, cần chi chính mình tìm phiền não chứ.

Nếu nói cho rõ ràng hơn, thì giả sử như lúc này đây Triệu Khuê Hiền bắt đầu lên kế hoạch đến tận hai mươi năm cuối cùng của cuộc đời sẽ sống ra sao, thì Lý Thịnh Mẫn chỉ biết nghĩ tối hôm nay có món gì ngon để ăn hay không. Nói tóm lại, đây chính là một đại diện cho thứ gọi là “ngốc một cách tự nhiên”.

Tuy rằng không hề nhàn rỗi vừa đi vừa du sơn ngoạn thủy, không có giữa đường thuận tiện bái phỏng thân bằng quyến thuộc hay bằng hữu, càng không đến quấy quả thế gia môn phái chi cả, hai người cứ thế đi theo lộ trình đã định, nhưng chặng đường vốn dĩ chỉ cần nửa tháng lại đi mất những một tháng mới đến nơi. Suốt dọc đường, những khi ngẫu nhiên cắm trại trong rừng, ngủ lại trong xe ngựa hay ngủ ngay ngoài trời thì Lý Thịnh Mẫn đều cực kỳ mệt mỏi tựa đầu vào cánh tay rắn chắc hoặc ôm bụng Triệu Khuê Hiền mà ngủ, ngủ một giấc thật an ổn giữa bầu trời đầy sao.

Cái gọi là cực kỳ mệt mỏi còn không phải là do kề vai áp má nữa sao?

Nếu nói như trong thi ca thì là “Dã hữu mạn thảo, linh lộ nhương nhương, hữu mỹ nhất nhân, uyển như thanh dương, giải cấu tương ngộ, dữ tử giai tang.”, còn nói trắng ra là cực kỳ dũng cảm vì đã có can đảm đánh dã chiến, đúng theo dạng “người làm cứ làm, ông trời trên cao cứ thế mà nhìn xuống”… (xấu hổ quá!)

Đồng hoang cỏ dại

Lộ vắng đẫm sương

Mỹ nhân hiện diện

Đẹp tựa thanh dương

Tình cờ tương ngộ

Hòa hợp sắc cầm

Lý Thịnh Mẫn mỗi lúc một thay đổi, đối với tình hình như thế không hề liều mình chống cự (mà dù có chống cự cũng không được). Mặc dù hắn vẫn sĩ diện cố phản kháng một chút, nhưng nhìn qua lại giống như là làm bộ chối từ mà thật ra là đang hoan nghênh vậy.

Một khi đã trở lại Hoa Tín sơn trang thì bọn họ không thể tùy tâm sở dục thân thiết với nhau, nên Triệu Khuê Hiền không muốn lãng phí khoảng thời gian này. Vì thế y không thèm đeo cái mặt nạ quân tử làm gì, cứ thế ăn sạch sẽ món ngon mang tên Lý Thịnh Mẫn, đêm nào cũng ăn, ăn mãi không thể ngừng, hành hành hạ hạ tiểu tử kia đến chết đi sống lại không thôi.

Cũng bởi thế mà một ngày của Lý Thịnh Mẫn trừ bỏ chuyện ăn uống vệ sinh, thì đại bộ phận là bị Triệu Khuê Hiền ôm vào lòng say giấc, những lúc thần trí thanh tỉnh chẳng được bao nhiêu. Đến khi hắn nhớ tới việc phải tức giận kháng nghị thì lại bị đè ra nhấm nháp, thế là bên cạnh những tiếng mắng mỏ lại kèm theo những tiếng rên rỉ kinh suyễn, lâu thật lâu, thảm thật thảm.

Lý Thịnh Mẫn thật sự hoài nghi, rằng có khi bọn họ còn chưa đến được Hoa Tín sơn trang thì hắn đã đạn tẫn cung tuyệt, tinh tẫn nhân vong mà chết mất rồi…

Sự cầm thú của Triệu đại công tử thì tăng tiến theo cấp số nhân, mang hết tâm sức ra khai phá dạy dỗ, nên cơ thể xuân thì mơn mởn của thiếu niên kia tựa như một đóa hoa nở rộ, diễm lệ đến kinh người, tản mác ra một thứ hấp dẫn chí mạng. Vì thế, khi bọn hắn tìm nơi khách điếm ngủ trọ, thì chắc chắn sẽ có việc ai đấy dùng thảm bao bọc kín từ đầu đến chân một kẻ khác rồi ôm vào theo lối cửa sau, không để cho bất kỳ người nào có cơ hội nhìn trộm cả.

Cuối mùa hạ năm ấy, bọn họ rốt cuộc cũng đến được Hoa Tín sơn trang. Sơn trang sớm đã nhận được tin Thiếu chủ trở về nên đích thân tổng quản dẫn mọi người xuống chân núi chờ nghênh đón. Từ xa, mọi người đã kiễng chân ngóng cổ chờ đợi xe ngựa của Triệu Khuê Hiền từ từ tiến đến. Mọi người vừa thấy Đạp Tuyết lừng danh của y vốn chỉ dùng để cưỡi, nay biến thành ngựa kéo xe thì cằm của ai nấy đều chảy dài xuống đất. Đến khi thấy Triệu Khuê Hiền đỡ khách quý của Lý gia bước ra thì nhất loạt những chiếc cằm đó đều rớt xuống lộp độp. Lý Thịnh Mẫn mặt mày mệt mỏi, cả người hồng hào phơn phớt, ẩn chứa bên trong thứ thần thái thu hút ánh nhìn của người khác.

Trong khoảnh khắc, tất cả mọi ngươi đều giật mình nhìn đến không chớp mắt.

Triệu Khuê Hiền nhìn thấy cảnh tượng đó thì nhíu mặt nhíu mày, tiện tay vơ lấy áo choàng bao bọc tiểu tử kia lại, nghĩ một đằng lại nói một nẻo – “Gần đây thời tiết chuyển lạnh, cẩn thận kẻo nhiễm phong hàn đấy.”

Nhưng lúc ấy mặt trời đang lên đến đỉnh, mọi người đều cảm thấy nóng bức đến đổ cả mồ hôi.

“Thuộc hạ cung nghênh Thiếu trang chủ trở về. Lão phu nhân đã ở tại đại sảnh chờ người cùng Lý công tử.” – Tổng quản vừa hoàn hồn đã lập tức cung kính bẩm báo.

“Được, chúng ta sẽ đến ngay.” – Triệu Khuê Hiền nắm tay dẫn Lý Thịnh Mẫn đi về phía đại sảnh để bái kiến tổ mẫu của mình – “Nội tổ mẫu, tôn nhi đã về đây! Vị này là Lý Ngũ công tử.”

“Vãn bối bái kiến lão phu nhân.” – Lý Thịnh Mẫn mở lời, cũng xem như là kính cẩn lễ phép. Tuy rằng trong nhà hắn không có trưởng bối, hắn lại là kẻ không sợ trời không sợ đất, nhưng cũng không đến nỗi chẳng biết trên dưới lớn nhỏ.

Vốn muốn giúp tiểu lưu manh tạo ấn tượng tốt với tổ mẫu nên Triệu Khuê Hiền đối với biểu hiện này của hắn không khỏi trong lòng thầm khen. Hóa ra tiểu tử kia cũng có chút giáo dục khiến y kinh hỉ.

“Lý công tử, đường xa vất vả rồi.” – Triệu Lão phu nhân hiền từ nói, càng nhìn đứa trẻ xinh xắn càng thích, thân thiết kéo hắn đến ngồi sát bên, cầm tay hắn mà hỏi han ân cần.

Tuy rằng hiện nay Trang chủ của Hoa Tín sơn trang là phụ thân Triệu Khuê Hiền, nhưng lão nhân gia đã ngao du sơn thủy nhiều năm chưa về. Bởi thế nên quyền hành ở sơn trang đều thuộc về Triệu Lão phu nhân và Triệu Khuê Hiền.

Hàn huyên được đôi ba câu, Triệu Lão phu nhân thấy Lý Thịnh Mẫn nhuốm vẻ mỏi mệt nên sai tổng quản dẫn hắn về hậu viện nghỉ ngơi. Lý Thịnh Mẫn theo thói quen liếc nhìn Triệu Khuê Hiền, thần tình có vẻ hơi chần chờ.

“Ngoan nào, đi nghỉ ngơi trước đi. Lát nữa ta sẽ đến tìm ngươi.” – Triệu Khuê Hiền dịu dàng mỉm cười.

“Hứ, ai cần ngươi đến tìm chứ?” – hắn nhịn không được, để lộ ra bản tính rồi xoay người rời đi.

Suốt một tháng qua, đây là lần đầu tiên họ tách khỏi nhau. Một chuyến hành trình hai con người trẻ tuổi sớm hôm bên nhau không rời, hiện giờ xa nhau ngược lại có chút không quen.

Triệu Lão phu nhân nhìn qua đã thấu hiểu tường tận, ánh mắt chợt lóe lên, trầm mặc nghĩ suy.

Triệu Khuê Hiền tiện thể cùng tổ mẫu đàm luận chuyện hợp tác cùng Lý gia để sản xuất rượu, chưa hề đề cập đến quan hệ giữa y và Lý Thịnh Mẫn, càng không nhắc đến thỏa thuận với Lý Thịnh Ngân. Triệu Lão phu nhân tôn trọng ý kiến của cháu mình, bảo rằng việc hợp tác với Lý gia là do y tự quyết định thì cứ thế mà làm, bà sẽ không nhúng tay vào can thiệp, bởi vì bà rất tin tưởng vào năng lực xử lý của Triệu Khuê Hiền. Mẫu thân Triệu Khuê Hiền chẳng may thác sớm, y là do một tay bà nội nuôi dưỡng đến lúc trưởng thành, cho nên y đối với bà luôn thập phần yêu thương cùng kính trọng.

Sau khi bàn bạc công việc xong xuôi, Triệu Lão phu nhân chuyển sang nói việc nhà. Bà mỉm cười ý nhị bảo rằng – “Đứa trẻ họ Lý kia thật là một người khờ khạo. Ngươi mang con người ta về đây có phải là muốn chọn làm vợ không?”

Triệu Lão phu nhân cực kỳ tôn trọng cháu của mình, không hề ép buộc y điều gì, để cho y có được tự do của chính mình. Mà ước chừng trên đời này bà là người hiểu rõ y nhất, vậy nên dĩ nhiên bà cũng rõ tính cách cháu mình trong ngoài không đồng nhất. Chỉ cần y không phá hoại, không làm những chuyện quá thương thiên hại lý hay mất nhân tính thì bà sẽ mắt nhắm mắt mở mặc kệ y, chẳng mấy khi hỏi đến.

Nhưng hôm nay nhìn thấy y và công tử Lý gia như thế rõ ràng là không tầm thường nên bà không thể không nói bóng gió.

Đối với câu nói có phần đùa cợt của bà, Triệu Khuê Hiền giật thót người, cẩn thận hỏi dò – “Tổ mẫu, hắn là một nam nhân mà.”

“Ngươi cho tổ mẫu của người là kẻ mù hay là kẻ ngốc thế? Chẳng lẽ ta không phân biệt được đâu là nam, đâu là nữ ư?”

“Tôn nhi không dám.”

“Người cũng đã dẫn vào cửa lớn rồi, còn có gì mà không dám chứ.”

Triệu Khuê Hiền cân nhắc một hồi, quyết định không giấu giếm nữa, thẳng thắn hỏi – “Người có thể chấp nhận cháu dâu là nam nhân không?”

Triệu Lão phu nhân yên lặng nhìn y, phần y chỉ kiên định dõi theo cái nhìn của bà, ánh mắt không hề hoảng sợ hay tránh né.

Cần gì hỏi nhiều chứ, đáp án chẳng phải đã ở ngay trước mặt rồi đấy sao?

Một lát sau, Triệu Lão phu nhân dường như bị đả bại bởi khí thế của cháu mình, thở dài một hơi rồi tặc lưỡi nói – “Ái chà, không nhận có được không? Nếu mạnh tay chia rẽ các ngươi, ngươi chắc chắn sẽ mang hắn rời khỏi Hoa Tín sơn trang, đánh chết cũng không chịu quay đầu về.”

“Tổ mẫu, chỉ có người mới là người hiểu tôn nhi nhất.”

“Tính tình ngươi thế nào tổ mẫu còn không rõ ư? Ngươi trông yên chi hồng phấn như thế, chẳng lẽ tổ mẫu không nhìn ra ngươi thích nam nhân hay nữ nhân ư?” – Triệu Lão phu nhân lại thở dài – “Tổ mẫu vì thế đã từng vô cùng phiền não, cũng từng suy nghĩ đến một ngày nào đó ngươi dẫn nam nhân về nhà thì có cần đánh gãy chân ngươi, rồi đuổi nam nhân kia đi, để các ngươi khỏi tìm cách trốn chạy hay không.”

“Tổ mẫu…”

“Đừng khẩn trương, tổ mẫu đã nói xong đâu, cần gì hoảng hốt.” – Triệu Lão phu nhân trêu chọc – “Nhưng đứa trẻ họ Lý kia thật xinh xắn đáng yêu, tổ mẫu vừa nhìn đã thích. Tổ mẫu suy nghĩ thật lâu, hiện giờ cũng chỉ có thể nhìn thoáng đi. Cho dù là nam nhân thì chỉ cần các ngươi đối đãi với nhau thật tốt, tổ mẫu đây liền giúp các ngươi thành toàn. Còn về việc nối dõi tông đường, dù sao thì đường huynh của ngươi cũng có đầy con ra đấy, đến lúc đó, chọn một đứa cho ngươi làm con thừa tự cũng không phải là không được.”

“Tổ mẫu, người suy nghĩ so với tôn nhi còn chu đáo cẩn thận hơn, đã nghĩ đến cả những sự tình lúc cuối đời nữa.” – Triệu Khuê Hiền cười khẽ, lúc này mới trầm tĩnh lại.

Nguyên bản y đã chuẩn bị tâm lý dù có trở mặt cũng tuyệt đối không thỏa hiệp. Một khi chuyện xảy ra, sẽ không ai có thể buộc y thay đổi, dù cho là thân tộc cũng vậy. Ai có ngờ đâu người có địa vị cao nhất ở Hoa Tín sơn trang chẳng những không gây khó dễ, mà còn vì y suy nghĩ chu đáo. Sự biết ơn của y dành cho bà đã không còn có thể dùng hai chữ “cảm kích” để diễn tả nữa. Trên đời này không ai có được may mắn bằng y cả.

“Nhưng còn chỗ phụ thân thì…?”

“Ngươi trước hết đừng nói gì với phụ thân ngươi cả. Chờ phụ thân ngươi về, tổ mẫu sẽ từ từ nói cho hắn hiểu. Chà, con cháu đều có hạnh phúc của con cháu cả.” – Triệu Lão phu nhân liên tục thở dài.

Bà đối với Triệu Khuê Hiền không phải là cố ý dung túng hay nhượng bộ, mà là bà hiểu rất rõ tính nết của cháu mình. Nếu quả thật cùng y rầy rà sinh chuyện, y chắc chắn sẽ bỏ đi khỏi Hoa Tín sơn trang, ruồng rẫy Thẩm gia, thậm chí còn kịch liệt đoạn tình, chỉ vì muốn cùng chú nhóc họ Lý kia dắt tay nhau đến tận chân trời cuối đất thôi.

Tính cách mạnh mẽ, không từ thủ đoạn để đạt được mục đích này hoàn toàn là kế thừa từ mẫu thân đã sớm quy tiên của y. May mắn sao y bên ngoài kế tục được vẻ trầm tĩnh của phụ thân, nhờ thế mang hết những âm ngoan che giấu vô cùng hoàn hảo. Lại nói tới đứa trẻ họ Lý kia gặp phải thằng cháu ngoài sáng sủa trong đen tối nhà mình, cầm chắc là đã bị khi dễ đến thảm hại rồi, ai da, thật sự là đáng thương mà. Triệu Lão phu nhân nghĩ tới nghĩ lui, ngược lại càng yêu thương Lý Thịnh Mẫn. Một đứa trẻ xinh xắn đáng yêu như thế thì ai có thể ghét nó đây, thương còn không hết nữa mà.

Triệu Khuê Hiền hướng về phía bà tạ lễ rồi cáo lui, chạy một mạch đến chỗ Lý Thịnh Mẫn, cước bộ thoải mái, mỗi bước chân như hoa nở đầy đường.

Hoa Tín sơn trang tương đối rộng lớn, so với phủ đệ Lý gia ở kinh thành thì lớn hơn rất nhiều, diện tích chiếm cả một đỉnh núi, sân ngoài sân trong cách nhau một quãng đường khá xa. Triệu Khuê Hiền đặc biệt dặn dò tổng quản sơn trang an bài cho Lý Thịnh Mẫn ở gần viện tử của mình. Y vốn định để hắn ở chung một chỗ với mình, nhưng sau khi suy tính trước sau không thể không kiêng kỵ. Dù sao nhóc con kia dùng thân phận khách quý của Lý gia để đến đây, chứ không phải làm nam sủng hay luyến đồng của y mà đến. Giả như hai người cùng ở chung thì tin đồn lẫn phiền toái ắt sẽ thi nhau kéo đến, thôi thì tránh hết đi cho nhẹ chuyện. Dù rằng chính y rất thích việc khi dễ hắn, nhưng lại tuyệt đối không thể chịu đựng việc người khác khinh bạc hắn, một chút cũng không. Ai dám cùng y tranh phần khi dễ nhóc con kia, y tuyệt đối sẽ khiến cho kẻ đó phải hối hận đến xanh xám mặt mày. Cái này gọi là quan viên được phóng hỏa, nhưng dân chúng không được đốt đèn. (không phải chứ?)

Nói tóm lại, nếu đã thấy rõ tâm ý của bản thân rồi, cũng đã nhận diện được mục tiêu rồi, thì cứ thế mà làm thôi.

Sự tình phải chậm rãi, cẩn thận mà tiến hành. Đánh cá phải biết thả lưới, kiên nhẫn đợi đến thời khắc tốt nhất mới cất vó thu lưới, vậy thì mới có thu hoạch tốt, chứ không phải nhận lấy một kết quả cá chết mà lưới thì rách bươm.

Y nhẹ nhàng đẩy cửa vào, trông thấy Lý Thịnh Mẫn vẫn còn chưa lên giường nghỉ ngơi mà đang ngồi bên cửa sổ, ngẩn người nhìn ra ngoài trời, vẻ mặt có đôi chút nhàm chán.

Lý Thịnh Mẫn nghe thấy tiếng mở cửa liền quay đầu lại nhìn, sau đó lại ngoảnh đi mặc kệ. Triệu Khuê Hiền tiến đến ôm chầm lấy hắn, đặt hắn ngồi trên đùi mình, cười hí hửng chạm môi vào môi hắn, lại khẽ cọ mũi vào đôi gò má, cúi đầu cắn nhẹ lên chiếc cổ trắng nõn.

Tiểu tử kia gần đây càng lúc càng trở nên mềm mại, da thịt trắng trẻo hồng hào, đôi mắt càng như mặt hồ đong đầy nước, bội phần đáng yêu. Mỗi khi y nhìn hắn đều muốn ghé môi cắn một cái, thậm chí là mang hắn ra ăn. Y đối với việc mình có thể nuôi dưỡng hắn tốt như thế cảm thấy vô cùng thành công.

Người chăn nuôi mắt nhìn thấy lợn mình nuôi ngày một béo tốt thì cứ hay thích sờ vào gáy nó, ở ngay tại đó xoa tới xoa lui, ước lượng cân nặng của nó. Triệu Khuê Hiền xem chừng cũng gần giống vậy, mà lợn y nuôi chắc chắn là một chú lợn nhỏ được yêu thích nhất trên đời. Lý Ngũ gia đương nhiên là không béo, nhìn tổng thể vẫn là một con thú nhỏ, vậy nên chỉ sờ một chút đã đàn hồi lại, độ co giãn dễ đến mười phần cơ, lông mao cũng vừa đủ, so với trước kia thì mượt mà hơn. Da dẻ hắn lại hồng hào, dáng vẻ nhu thuận, dù là ôm hay là sờ thì cũng vô cùng thoải mái, cảm giác cực kỳ dễ chịu.

“Cọ cái gì vậy? Ngươi là chó đấy à?” – Lý Thịnh Mẫn theo thói quen đẩy đầu y đi, nghĩ muốn tìm cách để y rời khỏi mình – “Hứ, ngươi mới rồi đã ăn mấy cân đường hay sao mà lại cười ngọt ngào như thế? Gớm đến chết được! Không được cắn! Mau cút đi!”

“Ta mang ngươi đến xưởng rượu xem một chút nhé.” – Triệu Khuê Hiền lại hôn môi hắn, mặt mày rạng rỡ như hoa nở, vô cùng tuấn nhã.

“Ừ, tốt!” – hắn tuy rằng chẳng hề có mấy hứng thú, nhưng quả thật nhàn rỗi cũng sinh chán nản. Hơn nữa, Triệu Khuê Hiền không giống như trước đây cùng mình tranh cãi tới lui, cho nên hắn thông minh chọn lựa cái gì cũng bảo tốt, chỉ cần y nói thì đều tốt cả.

Hứ, thật ra chẳng có chút gì là tốt cả, nhàm chán muốn chết ấy.

Lý Thịnh Mẫn có khi thật sự muốn lăn lộn trên mặt đất để ăn vạ, ví dụ như để tranh cãi rằng cái này hoàn toàn không phải là bánh đường. Hắn thật sự muốn xem mình có thể chọc giận tên Thẩm hỗn đản đang biến thành ông ba phải kia không, tốt nhất là có thể cùng y nháo một trận.

Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể tưởng tượng rằng nếu Lý Thịnh Mẫn thật sự làm thế, thì Triệu Khuê Hiền nhất định sẽ bày ra vẻ mặt sủng nịch, cười một hơi rồi bảo – “Ngoan nào, ta lập tức sai người đi mua bánh đường thật về cho ngươi ăn.”

“Ngoan cái đầu ông nội ngươi ấy! Cái gì cũng ngoan thế? Ta nếu mà ngoan theo lời ngươi nói thì cho ta đổi sang họ ngươi đi, từ giờ sẽ gọi ta là Triệu Thịnh Mẫn ấy… Ủa, mà khoan…, như thế thì giống mang họ chồng thế…? Bỏ đi, phải nói là ba chữ Lý Thịnh Mẫn sẽ phải viết ngược mới đúng.”

Nhưng Lý Thịnh Mẫn dù trong lòng vẫn như trước thích nghịch ý bất tuân, nhưng ngoài mặt vẫn ngoan ngoãn theo Triệu Khuê Hiền đến xưởng rượu, hy vọng sẽ tìm thấy việc gì vui vẻ. Dù sao thì hắn cũng chả muốn cả ngày bị tên cầm thú kia đặt ở trên giường đưa tới đẩy lui chẳng chịu ngừng.

Xưởng rượu được đặt tại một khe núi, đi từ xa đã có thể ngửi thấy hương rượu nồng đậm, từng nhánh cây ngọn cỏ trong núi tựa hồ đều được ướp men rượu, chỉ nhìn thôi cũng đủ để ngất ngây rồi.

Triệu Khuê Hiền khẽ gật đầu với các thủ vệ gác trước xưởng, dẫn Lý Thịnh Mẫn tiến vào. Ở bên trong là một gian phòng có bài trí bàn lớn đặt rất nhiều công văn của xưởng. Và những người ở đấy đương thảo luận việc gì đó, liền đứng dậy hành lễ – “Thiếu trang chủ!”

“Ngũ gia!” – có ba người hướng về phía Lý Thịnh Mẫn mà thủ lễ.

“Nhị Hoa, là ngươi sao?” – Lý Thịnh Mẫn thấy có người quen thì vừa mừng vừa sợ, cả người run lên bần bật, sôi nổi hơn hẳn.

“Đại gia phái tiểu nhân mang theo hai vị sư phụ chuyên ủ rượu đến đây học hỏi phương pháp ủ rượu của những người này.” – thanh niên nho nhã tên gọi là Nhị Hoa đáp. Người này thân mình đơn bạc có đôi chút yếu đuối.

“Các ngươi đến từ bao giờ thế?”

“Dạ, đã đến từ nửa tháng trước rồi ạ.”

“Chà, đi nhanh quá nhỉ, bên phía ta đi những một tháng kia.”

Nhị Hoa ngoài mặt cười cười, trong bụng sớm đã tỏ tường mọi sự.

Nói đến các thuộc hạ đắc lực trợ giúp Lý Thịnh Ngân trong việc kinh thương thì có bốn người, ấy là Đại Vinh, Nhị Hoa, Tam Phú, Tứ Quý. Bốn người này chuyên phụ trách quản lý sản nghiệp của Lý gia. Dĩ nhiên chắc chắn rằng lão Đại nhà họ Lý sẽ không thể mang việc làm ăn và chính sự giao cho Tiểu Ngũ ngốc nghếch, nhưng lại để cho một trong bốn vị quản sự đến đây, bấy nhiêu đủ để thấy hắn coi trọng chuyện này như thế nào.

Triệu Khuê Hiền thấy Lý Thịnh Mẫn cùng người nhà hắn trò chuyện có vẻ hứng thú thì cảm thấy hài lòng, bèn quay sang cùng vị sư phụ chuyên ủ rượu đàm luận phương pháp chưng cất ra một loại rượu màu tím.

Muốn chưng cất ra rượu màu tím không có cách nào khác ngoài việc lấy những loại quả chín mọng có màu tím làm nguyên liệu chính, tỷ như quả nho. Sau khi ủ ra thành màu hồng có hơi ánh tím thì phải thêm một số nguyên liệu phụ trợ khác thì mới có thể tạo thành một màu tím thật sự[3]. Nhưng quả nho vốn là thứ quả sinh trưởng ở Tây Vực, tại Đại Thiệu chẳng có mấy nơi gieo trồng. Huống hồ đây không phải là việc chưng cất bình thường, mà là thứ rượu tượng trưng cho Lý Thịnh Mẫn, nên hương vị cũng phải có những nét tương đồng như chính con người hắn.

Hơn nữa, còn phải trong một khoảng thời gian ngắn chưng cất hoàn tất.

Bình thường, việc ủ rượu lấy năm làm khoảng thời gian mà tính, ngắn thì hai, ba năm, dài thì mười năm. Mà Triệu Khuê Hiền tuyệt đối không thể chờ lâu đến nhường ấy.

Có một vị sư phụ từng ra vùng quan ngoại học hỏi cách chưng cất rượu bảo rằng, ở Tây Vực có một loại rượu được ủ trong thời gian ngắn, chỉ trong vòng từ hai đến ba tháng là có thành phẩm. Sau một hồi thảo luận, y quyết định sử dụng phương pháp mới, phái người thu mua nho, cũng định ra năm loại nguyên liệu phối cùng, chưng cất thử ba vò.

Bên này thảo luận vừa xong thì bên kia cũng đã hàn huyên được cả một lúc lâu. Triệu Khuê Hiền lấy đến hai chén rượu, đưa một chén cho Lý Thịnh Mẫn, bảo – “Đi thôi, ta dẫn ngươi đi thưởng thức rượu của Hoa Tín sơn trang.”

Lời vừa dứt thì mọi người ai nấy đều kinh ngạc, phần y chỉ nắm tay kéo Lý Thịnh Mẫn đi. Lý Thịnh Mẫn giằng khỏi tay y không được bèn kêu lên – “Không, ta không uống rượu.” – đáng tiếc là không có cách nào kháng cự được. Lôi lôi kéo kéo hồi lâu trên một con lộ ngắn, hai người tiến vào một sơn động.

Triệu Khuê Hiền thắp sáng ngọn đèn, ánh sáng lung linh tỏa tràn trong sơn động, khiến Lý Thịnh Mẫn thoáng chốc mở tròn to hai mắt, cảm thấy vô cùng bất ngờ trước cảnh tượng đồ sộ nơi ấy. Hai bên vách núi được khoét rỗng tạo thành nơi chứa những vò rượu, sứ có, sành có, thùng gỗ có, kéo dài đến sâu tận bên trong. Xem ra kho rượu của Hoa Tín sơn trang quả thật danh bất hư truyền.

“Loại rượu này gọi là Đường Quán Tử[4]. Nào, mau uống thử xem.” – Triệu Khuê Hiền mở một vò, dùng loại muôi chuyên để thử rượu múc một ít, đổ một nửa vào chén của Lý Thịnh Mẫn, nửa kia đổ vào chén của mình.

“Ngươi nghe không hiểu tiếng người à? Ta không uống rượu.” – hắn nhíu mày hờn dỗi, cự tuyệt không uống. Nhưng rồi hương rượu thoang thoảng dẫn lên mũi đã hấp dẫn hắn. Một kẻ hảo ngọt như hắn thật khó có thể từ chối một thứ ngọt như đường thế này.

Triệu Khuê Hiền ngửa mặt uống cạn chén rượu của mình nhưng lại không nuốt vào, mà thình lình kéo cằm Lý Thịnh Mẫn dán sát vào môi mình, mang toàn bộ rượu từ trong miệng đẩy qua miệng hắn.

“Ưm…” – Lý Thịnh Mẫn càu nhàu kêu lên, hương vị ngọt ngào của rượu vừa chảy qua khỏi yết hầu thì bên trong dạ dày đã có một cỗ hỏa nhiệt trỗi dậy.

“Uống có ngon không?” – Triệu Khuê Hiền vươn lưỡi liếm những giọt rượu còn vương nơi khóe miệng nhỏ nhắn – “Một khi đã uống rượu thì sẽ không dừng được. Lý Thịnh Mẫn, mau cho ta xem ngươi rốt cuộc có thể uống được bao nhiêu nào.”

Lý Thịnh Mẫn tức giận đẩy môi y ra xa, quẹt mép mắng – “Y như nước đái ngựa vậy, khó uống muốn chết.” – nhưng trong lòng thì gào thét rằng – “Ngon quá đi! Sao lại có thứ rượu ngon đến vậy chứ?”

Lòng nghĩ một đằng mà miệng nói một nẻo, tay lại càng là một hướng khác nữa. Hắn kháng cự không được bèn bưng chén rượu của chính mình lên uống cạn, sau đó mạnh miệng nói – “Hứ, thật là khó uống!” – Ngọt quá, ngọt quá!

Triệu Khuê Hiền khẽ cười, bắt đầu chọn lấy một vò rượu khác, tiếp tục múc đổ vào chén của Lý Thịnh Mẫn.

Lý Thịnh Mẫn miệng nói ghét nhưng tay vẫn không ngừng nâng chén, quả nhiên là không cách nào có thể dừng, càng uống càng hăng.

Người bình thường chỉ có thể uống được đến một phần ba chiều dài sơn động sẽ không còn cách nào chống đỡ, say đến càn khôn túy lúy, kẻ tửu lượng tốt nhất cũng chỉ có thể chống đỡ đến hai phần ba mà thôi, người đến được nơi tận cùng lại càng ít. Triệu Khuê Hiền chính là một trong số ấy, và y đang mong chờ Lý Thịnh Mẫn cũng sẽ chiếm một vị trí trong ấy.

Lý Thịnh Mẫn uống đến một phần ba sơn động thì bắt đầu say, uống đến hai phần ba sơn động thì đã tự mình lẩm bẩm gì đó, khi tiến càng đến gần nơi tận cùng thì cả người ngật ngưỡng. Nhiều năm trước hắn từng say một lần, nhưng chưa đến mức say như chết.

“Đây là Lao Nguyệt, là rượu tiến cống của Hoa Tín sơn trang.” – Triệu Khuê Hiền tuy rằng cũng uống, nhưng ly có ly không, quá nửa là đưa cho Lý Thịnh Mẫn. Trong lòng y không khỏi tán thưởng tửu lượng kinh người của tiểu tử này.

Vầng sáng từ ngọn đèn dầu khẽ lướt qua, ánh lên khuôn mặt nhỏ nhắn đỏ ửng như ráng chiều, sóng quang nơi đáy mắt trong suốt như pha lê, đầu lưỡi phấn hồng khẽ đưa chuyển liếm đôi bờ môi, dáng người say rượu đầy thỏa mãn, lộ ra vẻ vừa tiên diễm vừa đáng yêu vừa hấp dẫn.

Triệu Khuê Hiền nhấp nước bọt, dục vọng bất giác trỗi dậy. Đối với Lý Thịnh Mẫn y luôn có những ham muốn vĩnh viễn không thể lấp đầy, dù là ở bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi nào cũng có thể kích thích y một cách mãnh liệt.

Nhưng rồi y cố nén xuống, múc thêm một muôi khác – “Đây là Sấu Ngọc, là loại rượu tượng trưng cho ta, là một thứ rượu màu xanh biếc.”

“Á… rượu màu xanh ư… người cũng có thể uống thứ này sao… A… a…” – Lý Thịnh Mẫn tiếp tục châm chọc, ngôn từ ba lắp lắp bắp chẳng nên lời, nhưng rồi vẫn uống cạn.

“Uống có ngon không?”

“…” – hắn hoàn toàn lặng yên.

“Sao lại chẳng nói lời nào thế?” – cuối cùng cũng say rồi sao? Triệu Khuê Hiền ôm hắn vào lòng, ngực áp sát vào ngực, tránh để cho hắn té ngã.

“Ngon…a… ngon lắm…” – hắn ngọng nghịu lẩm bẩm, mãi hồi lâu sau mới nói thành tiếng – “Ô… ngon quá!… Sao lại ngon đến vậy chứ?… Nào, một chén nữa đi…Ô…ô….”

Triệu Khuê Hiền nghe thấy tiếng khóc, vội vã nâng mặt hắn dậy, thấy hắn đang nước mắt lưng tròng, từng giọt lệ, từng giọt lệ tuôn trào khỏi khóe mắt, khiến gương mặt đỏ ửng sũng nước.

Hóa ra nguyên nhân thật sự khiến Lý Thịnh Mẫn không uống rượu bao giờ chính là một khi uống thì sẽ khóc, mà khóc thì sẽ không ngừng, cứ thế vừa khóc, vừa nói liên miên bất tận những lời loạn thất bát tao.

Triệu Khuê Hiền im lặng lắng nghe những lời hắn nói, cuối cùng cũng đã hiểu đôi ba phần

“Ô ô… họ Triệu kia, ngươi là cái đồ hùng lão tử… &%#… Ta đời này chưa bao giờ sợ ai như thế cả. Ngươi cút xuống địa ngục đi…  &%$#… Ô ô… Ngươi là một kẻ điên, hại ta sợ muốn chết luôn… &%#$… Ngươi là cái đồ biến thái vương bát đản, ta ghét ngươi lắm… &%#@… Mông ta đau quá, nhưng ta thật sự thoải mái muốn chết… $#@… Ô ô… Ta còn cho rằng bản thân thật sự sẽ chết, ai ngờ đâu rốt cuộc lại thích đến vậy chứ… %$#@ … ô ô…”

Triệu Khuê Hiền miệng cười toét đến mang tai, kềm lòng không đặng, cúi đầu áp sát môi vào chiếc miệng nhỏ nhắn kia, nuốt lấy toàn bộ những tiếng khóc đáng yêu của hắn, dùng sức gắt gao ôm chặt lấy hắn, chỉ muốn mang chính mình tiến vào bên trong cơ thể hắn, để cả hai hòa lại làm một, vĩnh viễn không bao giờ tách ra nữa.

Ngọn đèn trên cao kia chậm rãi leo lét dần, ánh sáng duy nhất cũng lặng lẽ lụi tàn.

o0o


[1]hạ thủ lưu tình : xuống tay có nương tình.

 

[2]ô long hắc điếm : ý chỉ sự việc xảy ra ở một nơi xấu xa.

[3]chú thích này là để giải thích vì sao trong số lễ vật thách cưới, Lý Thịnh Ngân lại đòi hỏi phải có một loại rượu màu tím.   (tiếp trang sau)

Như chúng ta đều biết, rượu vang thường được chưng cất từ quả nho mà thành, và nhiều người cho rằng nho có màu tím thì sẽ dễ dàng ủ được loại rượu có màu tím. Trên thực tế thì cho dù là nho tím thì cũng chỉ có thể ủ ra rượu có màu đỏ huyết dụ, đỏ đô mà thôi. Vậy nên, việc Triệu Khuê Hiền có thể ủ thành một loại rượu màu tím, thì ấy chính là một báu vật hòng biểu lộ chân tình mà y dành cho Lý Thịnh Mẫn.

Nói thêm về việc chưng cất rượu. Hiện nay trên thế giới, nổi tiếng nhất về rượu vang phải nói đến Pháp, đặc biệt là vùng Bordeaux. Rượu vang hiện giờ có ba loại, đỏ, trắng và hồng, vang trắng sẽ được dùng chung với các món hải sản hoặc thịt trắng (như thịt gà, thịt vịt…), còn vang đỏ sẽ được dùng chung với các loại thịt đỏ (như thịt bò, heo, cừu…). Về cách chưng cất thì nhìn chung có năm giai đoạn:

1. Ép nước : với vang trắng thì trước khi ép sẽ lột hết vỏ, với vang đỏ thì sẽ giữ phần vỏ lại ủ chung, sau đó mới vớt ra, riêng với vang hồng sẽ ngâm cùng vỏ trong vòng 12-36h rồi vớt ra.

2. Lên men : giai đoạn này sẽ để phần đã ép lên men

3. Phá thùng: Dẫn rượu đã được lên men sang một thùng khác

4. Lọc hết phần cặn còn sót lại.

5. Đóng chai.  (trang sau)

Các giống nho để chưng cất rượu khá đa dạng, nhưng giống nho tốt nhất để làm rượu trắng là Chardonnay, còn rượu đỏ là Cabernet – Sauvingon, ngoài ra còn có một số giống nho đỏ khác như Merlot, Pinot Noir…

Mỗi loại rượu vang thì có cách phục vụ và nhiệt độ phục vụ riêng, vang đỏ sẽ được uống ở nhiệt độ 16-180C, vang trắng và hồng thì ở nhiệt độ 8-120C, vậy nên khi trước khi uống thì vang trắng và vang hồng sẽ được ướp lạnh.

Dĩ nhiên, không phải loại rượu nào cũng được làm từ nho mà còn từ nhiều thứ khác như tinh bột khoai tây (Vodka), thảo dược và tinh dầu cô đặc (Tequila), đường mía (Rhum), lúa mạch (Whisky), trái cây (Liqueur).

Còn nếu nói về rượu của Trung Quốc thì càng có nhiều loại hơn, ví dụ như Mao đài tửu, Thiệu Hưng nữ nhi hồng, Thiệu Hưng trạng nguyên hồng, Trúc diệp thanh, Mai quế lộ, Bách thảo tửu, Bồ đào tửu, Ngũ gia bì… Về quy trình chưng cất thì vô cùng phức tạp, có loại phải trải qua 8 lần chưng cất mới ra được thành phẩm như Mao đài tửu.

Rượu của người Trung Quốc chia làm hai loại là Bạch tửu và Hoàng Tửu. Bạch tửu chế tạo bằng cách chưng cất, độ cồn trên 30%, thường được hâm nóng trước khi uống nên còn gọi là thiêu tửu. Bạch tửu không tốt cho sức khỏe bằng hoàng tửu. Hoàng tửu chế tạo bằng cách lên men, có độ cồn dưới 20%, có thể chưng cất thành bạch tửu. Các tỉnh Chiết Giang, Phúc Kiến, Sơn Đông, Thiệu Hưng rất nổi tiếng về hoàng tửu.

Ngũ cốc làm rượu không giống nhau: miền Nam dùng gạo nếp; miền Bắc dùng lúa mì, đại mạch, cao lương hoặc hỗn hợp ngũ cốc. Ngoài ra, còn dùng nho (bồ đào), lê, cam, trái vải, sơn tra, mía v.v… Nước rất quan trọng vì nó góp phần vào sự lên men. Men rượu gọi là khúc bính hay tửu dược. Hương vị riêng của rượu còn tùy thuộc độ kiềm của nước. Người ta dùng thêm một số thảo dược để tạo màu và hương vị đặc trưng. Loại rượu thảo dược có thể dùng làm gia vị nấu ăn.      (tiếp trang sau)

Trên đây chỉ là một  ít kiến thức về rượu mà người edit học hỏi được, chứ về thế giới rượu nói chung thì bao la bạt ngàn mà người edit kém cỏi không thể nào hiểu biết hết.

[4] Đường Quán Tử : nguyên nghĩa là bình đường, ở đây tên rượu là biểu thị tính chất của loại rượu ngọt như đường này.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s